Tâm Lý Học Phật Giáo - Duy Thức Học Nhập môn
  • Lượt xem: 694

DUY THỨC HỌC 

(Thích Thiện Hoa)

DUY THỨC HỌC NHẬP MÔN



BÀI THỨ NHỨT  

LUẬN ĐẠI THỪA TRĂM PHÁP  

(Trích yếu Bài này nên học thuộc lòng) 


PHẦN THỨ NHỨT  

CHÁNH VĂN  

Hỏi: Như lời Phật dạy: "Tất cả các pháp đều vô ngã". Vậy cái gì là "Tất cả pháp" và sao gọi là "vô ngã"? 

Đáp: Tất cả các pháp tuy nhiều, nhưng tóm lại có 100 pháp, chia làm 5 loại: 

I. Tâm pháp (Có 8 món) 

II. Tâm sở hữu pháp (Có 51 món) 

III. Sắc pháp (Có 11 món) 

IV. Tâm bát tương ưng hành pháp (Có 24 món) 

V. Vô vi pháp (Có 6 món) 

LƯỢC GIẢI  

I. TÂM PHÁP HOẶC GỌI LÀ TÂM VƯƠNG CÓ 8 MÓN  

1. Nhãn thức (cái biết của mắt) 

2. Nhĩ thức (cái biết của tai) 

3. Tỹ thức (cái biết của mũi) 

4. Thiệt thức (cái biết của lưỡi) 

5. Thân thức (cái biết của thân) 

6. Ý thức (cái biết của ý) 

7. Mạt na thức (Thức thứ 7) 

8. A lại da thức (Thức thứ 8) 

II. TÂM SỞ HỮU PHÁP, GỌI TẮT LÀ TÂM SỞ, CÓ 51 MÓN, PHÂN LÀM 6 LOẠI:  

1. Biến thành, có năm: Xúc, Tác ý, Thọ, Tưởng, Tư. 

2. Biệt cảnh, có năm: Dục, Thắng giải, Niệm, Định, Huệ. 

3. Thiện, có mười một: Tín, Tàm, Quí, Vô tham, Vô sân, Vô si, Tinh tấn, Khinh an, Bất phóng dật, Hành xả, Bất hại. 

4. Căn bản phiền não, có sáu: Tham, Sân, Si, Mạn, nghi, Ác kiến. 

Ác kiến lại chia làm năm: Thân kiến, Biên kiến, Tà kiến, KIến thủ, Giới cấm thủ. 

5. Tuỳ phiền não, có 20 món, chia làm ba loại: 

a) Tiểu tuỳ, có 10: Phẫn, Hận, Phú, Não, Tật, Xan, Cuồng, Siễm, Hại, Kiêu. 

b) Trung tuỳ, có 2: Vô tàm, Vô quí. 

c) Đại tuỳ, có8: Trạo cử, Hôn trần, Bất tín, Giải đãi, Phóng dật, Thất niệm, Tán loạn, Bất chánh tri.

6. Bất định, có bốn món: Hối, Miên, Tầm, Tư. 

III. SẮC PHÁP, CÓ 11 MÓN:  

Năm căn: Nhãn căn, Nhĩ căn, Tỹ căn, Thiệt căn và Thân căn. 

Sáu trần: Sắc trần, Thinh trần, Hương trần, Vị trần, Xúc trần và Pháp trần. 

IV. TÂM BẤT TƯƠNG ƯNG HÀNH PHÁP, GỌI TẮT LÀ "BẤT TƯƠNG ƯNG HÀNH", CÓ 24 MÓN: 

Đắc, Mạng căn, Chúng đồng phận, Di sanh tánh, Vô tưởng định, Diệt tận định, Vô tưởng báo, Danh thần, Cú thân, Văn thân, Sanh, Trụ, Lão, Vô thường, Lưu chuyển, Định dị Tương ưng. Thế tốc, Thứ đệ, Thời, Phương, Số, HOà hiệp tánh, Bất hoà hiệp tánh. 

V. VÔ VI PHÁP, CÓ 6 MÓN:  

Hư không vô vi, Trạch diệt vô vi, Phi trạch diệt vô vi, Bất động diệt vô vi, Tưởng thọ diệt vô vi, Chơn như vô vi. 

Nguyên văn chữ Hán 

Nhứt thế tối thắng cố 

Dữ thử tương ưng cố 

Nhị sở hiện ảnh cố 

Tam vị sai biệt cố 

Tứ sở hiển thị cố 

Như thị tứ đệ. 

Dịch nghĩa:  

Thứ lớp như vầy: Tâm vương hơn tất cả. Tâm vương cùng Tâm sở hợp nhau. Do hai món: Tâm vương và Tâm sở, mà hiện ra ảnh tượng là "sắc pháp". Do ba món: Tâm vương, Tâm sở và Sắc pháp, mà thành ra 24 món sai khác là "Bất tương ưng hành". Do bốn món: Tâm vương, Tâm sở, Bất tương ưng hành, đều thuộc về Pháp Hữu vi, nên hiện ra 6 Pháp Vô vi. 

LƯỢC GIẢI  

Tóm lại, ngoại nhơn hỏi: "Cái gì là tất cả pháp ? Đại ý, Luận chủ trả lời: Các pháp tuy nhiều, nhưng ước lược chỉ có một trăm pháp, phân làm 5 loại:1. Tâm vương có 8; 2. Tâm sở có 5; 3. Sắc pháp có 11; 4. Bất tương ưng hành có 24; 5. Vô vi pháp có 6. Trong 5 loại, lại chia làm hai: Bốn loại trên thuộc về Pháp Hữu vi, loại thứ 5 thuộc về pháp Vô vi. 

Trên nguyên văn nói "tất cả pháp" tức là pháp Hữu vi và vô vi vậy. Từ trước đến đây Luận chủ đã trả lời xong câu hỏi thứ nhứt: "Cái gì là tất cả pháp". 

Vì muốn cho học giả dễ nhớ, nên Cổ nhơn có làm bài kệ bốn câu, tóm lại 100 pháp như vầy: 

Sắc pháp thập nhứt, tâm pháp bát, 

Ngũ thập nhứt cá tâm sở pháp 

Nhị thập tứ chủng bất tương ưng, 

Lục cá Vô vi thành bá pháp. 

Dịch nghĩa:  

Sắc pháp mười một, Tâm pháp tám, 

Năm mươi mốt món Tâm sở pháp, 

Hai mươi mốt món Bất tương ưng, 

Sáu món Vô vi thành trăm pháp. 


*** 


PHẦN THỨ HAI  

Luận chủ trả lời câu hỏi thứ hai: "Sao gọi là vô ngã?" 

CHÁNH VĂN 

Nói "vô ngã", lược có 2 món: 

1. Nhơn vô ngã, 2. Pháp vô ngã. 

LƯỢC GIẢI  

Chúng sinh chấp thân, tâm này thật là mình (ta), như thế là "Nhơn ngã" ; chấp núi, sông, đất, nước, tất cả sự vật bên ngoài là thật có, như thế là "Pháp ngã". 

Vì "nhơn" không thật có và "Pháp" cũng không thật có, nên Phật gọi rằng: "Tất cả Pháp vô ngã"; tức là "Nhơn không thật" và "Pháp không thật" vậy. 

Như thế là Luận chủ đã trả lời xong câu hỏi thứ hai: "Thế nào là vô ngã". 


BÀI THỨ HAI  

LUẬN ĐẠI THỪA TRĂM PHÁP 


Nguyên văn chữ Hán

Như Thế Tôn ngôn: 

"Nhứt thế pháp vô ngã". 

Hà dẳng nhứt thế pháp ? 

Vân hà vi vô ngã ? 

Dịch nghĩa:  

Như lời đức Thế Tôn nói: 

"Tất cả Pháp không thật". 

Vậy, cái gì là "tất cả Pháp"? 

Và sao gọi là "không thật"? 

LƯỢC GIẢI  

Chữ "PHÁP" tức là tất cả sự vật từ tinh thần lẫn vật chất, nào Thánh Phàm chơn vọng, hữu tình vô tình, hữu hình vô hình, hữu vi vô vi, v.v...đều gọi là Pháp. 

Dịch đúng theo văn Tàu: "Phàm cái gì, tự nó có thể giữ được hình dáng hay khuôn khổ của nó, làm cho người, khi trông đến nó, biết đó là vật gì, thì gọi là "Pháp" (Nhậm trì tự tánh, quỷ sanh vật giải). 

Chữ "NGÃ" là Ta hay Tôi. Phàm nói "Ta" thì phải đủ hai điều kiện: 1. Tự tại hay tự chủ, 2. Có thể sắp đặt sai khiến mọi việc. Như thế mới được gọi "Ta". Nhưng chữ "vô ngã" ở đây, nên hiểu nghĩa là "không thật" thì rõ hơn. 


*** 


PHẦN THỨ NHẤT, NÓI 100 PHÁP  

Nguyên văn chữ Hán

Nhứt thế pháp giả, lược hữu ngũ chủng: 

Nhứt giả Tâm pháp, 

Nhị giả Tâm sở hữu pháp, 

Tam giả Sắc pháp, 

Tứ giả Tâm bất tương ưng hành pháp, 

Ngũ giả Vô vi pháp. 

Dịch nghĩa  

Nói tất cả Pháp có năm món: 

1. Tâm pháp 

2. Tâm sở hữu pháp 

3. Sắc pháp 

4. Tâm bất tương ưng hành pháp 

5. Vô vi pháp 

LƯỢC GIẢI  

Chữ "TÂM" có nhiều nghĩa, nhưng tóm lại có 6 nghĩa: 

1. Tập khởi: Chứa nhóm và phát khởi. Nghĩa này thuộc về thức thứ Tám (Tàng thức). Vì thức này có công năng "chứa nhóm" chủng tử của các pháp, rồi "phát khởi" ra hiện hành. 

2. Tích tập: Chứa nhóm. Nghĩa này thuộc về bảy thức trước. Vì bảy thức trước có công năng "chứa nhóm" các pháp hiện hành để huân vào Tàng thức. 

Trái lại, Bảy thứ`c trước cũng có nghĩa "tập khởi" (chứa nhóm và phát khởi), vì bảy thức trước có công năng "chứa nhóm" các pháp hiện hành, để huân vào Tàng thức, "khởi thành" chủng tử. 

Thức thứ Tám cũng có nghĩa "tích tập" (chứa nhóm), vì thức thứ Tám có công năng "chứa nhóm" chủng tử của các pháp vậy. 

3. Duyên lự: Duyên cảnh, khởi phân biệt. Tám thức đều tự duyên cái cảnh tướng phần của mình, rồi khởi ra phân biệt (lự). 

4. Thức: Hiểu biết phân biệt. Cả tám thức đều có công dụng hiểu biết phân biệt. 

5. Ý:Sanh diệt tương tục không gián đoạn. Cả tám thức đều niệm niệm sanh diệt tương tục không gián đoạn. 

6. Tâm,Ý và Thức: Vì y theo đặc tánh của mỗi thức, thì thức thứ Tám về nghĩa"Tích tập" thù thắng, nên gọi là"Tâm"; thức thứ Bảy về nghĩa"sanh diệt tương tục" thù thắng, nên gọi là "Ý" và sáu thức trước về nghĩa phân biệt thù thắng nên goi là:Thức". 

Chữ "TÂM PHÁp": Pháp thuộc về Tâm. Vì 8 món Tâm này có công năng thù thắng hơn hết; cũng như ông Vua có oai quyền thế lực, thống trị thiên hạ, cho nên cũng gọi là "Tâm vương". 


*** 


NGƯỜI HỌC NÊN HỌC THUỘC LÒNG NHỮNG DANH TỪ SAU ĐÂY:  

I. Ba cảnh: a) Tánh cảnh, b) Độc ảnh cảnh, c) Đới chất cảnh. 

II. Ba lượng: a) Hiện lượng, b) Tỷ lượng, c) Phi lượng. 

III. Ba tánh: a) Thiện tánh, b) Ác tánh, c) Vô ký tánh. 

IV. Ba thọ: a) Khổ thọ, b) Lạc thọ, c) Xả thọ. 

V.Năm thọ: a) Khổ thọ, b) Lạc thọ, c) Ưu thọ, d) Hỷ thọ, đ) Xả thọ. 

VI. Tâm có bốn phần: a) Tướng phần, b) Kiến phần, c)Tự chứng phần, d) Chứng tự chứng phần. 

VII. 51 món Tâm sở, phân làm 6 vị: 

a) Biến hành, có 5 

b) Biệt cảnh, có 5 

c) Thiện, có 11 

d) Căn bổn phiền não, có 6 

e)Tuỳ phiền não, có 20 

g) Bất định, có 4 

a) Dục giới: 1. Ngũ thú tạp cư địa. 

2. Ly, sanh hỷ lạc địa. 

3. Định, sanh hỷ lạc địa. 

VIII. Ba giới b) Sắc giới: 4. Ly hỷ, diệu lạc địa. 

và chín địa 5. Xả niệm thanh tịnh địa 

6. Không vô biên xứ địa 

7. Thúc vô biên xứ địa 

c) Vô sắc giới: 8.Vô sở hữu xứ địa 

9.Phi tưởng phi phỉ tưởng xứ địa. 

Tư lượng vi: 

1. Thập trụ, 2. Thập hạnh, 

3. Thập hồi hướng. 

a) Hiền: Tứ gia hạnh vị: 

1. Noãn, 2. Đảnh, 3. Nhẫn, 

4. Thế đệ nhứt. 

IX. Bồ tát 1. Hoan hỷ địa, 2. Ly cấu địa, 

có hai 3. Phát quang địa, 4. Diệm huệ 

địa, 5. Nan thắng địa, 6. Hiện 

b) Thánh: tiền địa, 7. Viễnhành địa, 8. Bất 

động địa, 9. Thiện huệ địa, 

10. Pháp vân địa. 

X. Tám thức và các duyên: 

Nhãn thức, có 9 duyên: 1. Hư không, 2. Ánh sáng, 3. Căn, 4. Cảnh, 5. Tác ý, 6. Phân biệt y, 7. Nhiễm tịnh y, 8. Căn bản y, 9. Chủng tử. 

Nhĩ thức, có 8 duyên: Các duyên cũng đồng như Nhãn thức trên, chỉ trừ " ánh sáng". 

Ba thức: Tỹ, Thiệt và Thân, lại còn có 7 duyên: Các duyên đồng như Nhãn thức trên, chỉ bớt 2 duyên là Hư không và Ánh sáng. 

Ý thức,có 5 duyên: 1. Căn, 2. Cảnh, 3. Tác ý, 4. Căn bản y, 5. Chủng tử. 

Mạt na thức, có 3 duyên: 1. Căn cảnh, 2. Tác ý, 3. Chủng tử. 

A lại da thức, có 3 duyên: 1. Căn (Mạt na), 2. Cảnh (thân căn, khí giới và chủng tử), 3. Tác ý, 4. Chủng tử. 

Vì muốn dễ nhớ, nên Cổ nhơn có bài tụng như sau: 

Nhãn thức cửu duyên sanh 

Nhĩ thức duy tùng bát 

Tỹ, Thiệt, Thân tam,thất 

Hậu tam; ngũ, tam, tứ

Dịch nghĩa  

Nhãn thức đủ chín duyên 

Nhĩ thức chỉ còn tám 

Tỹ, Thiệt, Thân có bảy 

Sau ba; năm, ba bốn 

LƯỢC GIẢI  

Nhãn thức có đủ chín duyên; Nhĩ thức chỉ có 8 duyên; Tỹ, Thiệt và Thân ba thức này lại có 7 duyên; còn ba thức sau thì thức thứ 6 có 5 duyên, thức thứ 7 có 3 duyên và thức thứ 8 có 4 duyên. (Thức thứ 7 lấy kiến phần của A lại da thức làm cảnh; Thức thứ 8 lấy căn thân, khí giới và chủng tử làm cảnh). 


BÀI THỨ BA 

I. TÂM VƯƠNG (CÓ TÁM MÓN)  


Tám món tâm này rất thù thắng,tự tại và tự chủ; cũng như vị Quốc vương, nên gọi là Tâm vương(nhứt thế tối thắng cố) 

NĂM THỨC TRƯỚC  

(TIỀN NGŨ THỨC)  

1. Nhãn thức: Cái biết của con mắt. Vì thức này nương Nhãn căn, khởi ra tác dụng phân biệt về sắc trần, nên gọi là "Nhãn thức". 

2. Nhĩ thức: Cái biết củalỗ tai. Vì thức này nương Nhĩ căn, khởi ra tác dụng phân biệt về thinh trần, nên gọi là "Nhĩ thức". 

3. Tỹ thức: Cái biết củamũi. Vì thức này nương Tỹ căn, khởi ra tác dụng phân biệt về hương trần, nên gọi là "Tỹ thức". 

4. Thiệt thức: Cái biết củalưỡi. Vì thức này nương Thiệt căn, khởi ra tác dụng phân biệt về vi trần, nên gọi là "Thiệt thức". 

5. Thân thức: Cái biết củathân. Vì thức này nương thân căn, khởi ra tác dụng phân biệt về xúc trần, nên gọi là "Thân thức". 

Trong 8 thức Tâm vương. Vì 5 thức này ở bên ngoài và trước, nên cũng gọi là "Tiền ngũ thức" (năm thức trước). 

KHI Ở ĐỊA VỊ PHÀM PHU NĂM THỨC NÀY ĐỐI VỚI:  

1. Ba cảnh: Năm thức này chỉ có"Tánh cảnh" 

2. Ba lượng: Năm thức này chỉ có"Hiện lượng" 

3. Ba tánh: Năm thức này có đủ 3 tánh: Thiện,Ác và Vô ký. 

4. Năm thọ: Năm thức này chỉ có 3 thọ: Khổ, Lạc và Xả thọ. 

5. Ba cõi: Ở cõi Dục thì năm thức này đủ cả, đến cõi Sắc chỉ cỏn thức: Nhãn,Nhĩ và Thân; vì hai thức Tỹ và Thiệt không hiện hành(Nhãn, Nhĩ, Thân tam Nhị địa cư). 

6. Chín địa: Năm thức này chỉ ở trong hai địa: 1. Ngũ thú tạp cư địa, tức là cõi Dục thuộc về Sơ địa. 2. Ly sanh hỷ lạc địa, ở cõi Sắc, thuộc Sơ thiền gọi là Nhị địa. 

7. Năm mươi mốt Tâm sở: Năm thức này chỉ tương ưng 34 tâm sở: 5 món biến hành, 5 món biệt cảnh, 11 món Thiện, 3 món Căn bản phiền não, 2 món Trung tuỳ và 8 món đại tuỳ. 

8. :Chín duyên:Nhãn thức đủ 9 duyên, Nhĩ thức chỉ còn 8 duyên (thiếu Minh), 3 thức Tỹ, Thiệt và Thân chỉ có 7 duyên ( thiếu Minh và Không ). 

9. Thể: Thể của 5 thức này, chỉ có Tự tánh phân biệt, không có Tuỳ niệm phân biệt và Kế đạt phân biệt. 

10. Tướng: Thức với căn khó phân (ngu giả nan phân thức dữ căn). 

11. Nghiệp dụng: Duyên trần cảnh. Song 2 thức: Nhãn và Nhĩ phải cách trần cảnh mới phân biệt được. Còn 3 thức: Tỹ, Thiệt và Thân phải hiệp với trần cảnh mới phân biệt được. 

KHI LÊN THÁNH VỊ NĂM THỨC NÀY ĐỐI VỚI:  

1. Quán hạnh (tu): Khi lên Thánh vị, thì 5 thức này chuyển thành "Hậu đắc trí", và biến ra cái Tướng phần của 2 món chơn như (Sanh không chơn như và pháp không chơn như) mà quán (duyên). 

2. Đoạn hoặc và chuyển thành trí: Khi thức thứ 8 đã chuyển thành "Đại viên cảnh trí", thì các căn được vô lậu; lúc bấy giờ 5 thức này cũng được vô lậu và chuyển làm "Thành sở tác trí". 

3. Chứng quả và diệu dụng: Khi chứng quả vị Phật thì 5 thức này chuyển làm "Thành sở tác trí". Lúc bấy giờ nó có công dụng hoá hiện ra 3 loại thân để giáo hoá và dứt trừ các khổ sanh tử luân hồi cho chúng sanh. 

BA LOẠI THÂN:  

1. Thân Đại hoá tức là Thắng ứng thân. Thân này cao 1.000 trượng, để giáo hoá hàng Đại thừa Bồ Tát. 

2. Thân Tiểu hoá tức là Liệt ứng thân. Thân này cao một trượng sáu thước, để giáo hoá hàng Tam hiền Bồ Tát cùng Nhị thừa và phàm phu. 

3. Thân Tuỳ loại hoá. Thân này tuỳ theo loại chúng sanh mà hoá hiện. 





Vì muốn cho người học dễ nhớ, nên trong Bát thức Qui củ, Ngài Huyền Trang Pháp sư có làm ba bài tụng tóm tắt lại 5 thức như sau. Hai bài tụng đầu là nói 5 thức này khi còn ở địa vị phàm phu, bài tụng thứ 3 là nói khi lên Thánh vị. 

Bài tụng thứ nhứt  

Tánh cảnh, Hiện lượng, thông tam Tánh 

Nhãn, Nhĩ, Thân tam Nhị địa cư 

Biến hành, Biệt cảnh, Thiện thập nhứt 

Trung nhị, Đại bát, Tham, Sân, Si 

Dịch nghĩa 

Tánh cảnh, Hiện lượng, thông ba Tánh 

Nhãn, Nhĩ, Thân ba ở Nhị địa 

Biến hành, Biệt cảnh, Thiệt mười một 

Trung hai, Đại tám, Tham, Sân, Si 

LƯỢC GIẢI  

Trong 3 Cảnh thì 5 thức này chỉ có "Tánh cảnh"; trong 3 lượng nó chỉ có "Hiện lượng"; còn 3 Tánh thì nó đủ cả Thiện, Ác và Vô ký. 

Ở cõi Dục là Sơ địa, thì đủ cả 5 thức. Lên cõi Sắc về Nhị địa, thì chỉ còn 3 thức là: Nhãn, Nhĩ và Thân. 

Nói về Tâm sở, thì 5 thức này tương ưng với 34 món: 5 món Biến hành, 5 món Biệt cảnh, 11 món Thiện, 2 món Trung tuỳ, 8 món Đại tuỳ và 3 món Căn bản phiền não là: Tham, Sân, Si. 

Bài tụng thứ hai  

Ngũ thức đồng y Tịnh sắc căn 

Cửu duyên, bát, thất hảo tương lân 

Hiệp tam, ly nhị, quán trần thế 

Ngu giả nan phân thức dữ căn 

Dịch nghĩa  

Năm thức đồng nương Tịnh sắc căn 

Chín, tám, bảy duyên ưa gần nhau 

Ba hiệp, hai rời, duyên trần cảnh 

Ngu giả khó phân Thức và Căn . 

LƯỢC GIẢI  

Căn, có 2 loại: 1. Phù trần căn:Căn thô phù bên ngoài. 2. Tịnh sắc căn: căn thanh tịnh tinh tế ở bên trong; cũng gọi là "Thắng nghĩa căn", vì căn này rất thù thắng. 

Năm thức đều nương 5 căn Tịnh sắc và nhờ có các duyên mới sanh ra được. Như Nhãn thức nhờ 9 duyên, Nhĩ thức chỉ còn 8 duyên, Tỹ, Thiệt và Thân mỗi thức chỉ có 7 duyên. 

Ba thức: Tỹ, Thiệt và Thân phải hiệp với trần cảnh mới duyên được; còn 2 thức là Nhãn và Nhĩ phải cách hở trần cảnh mới duyên được. 

Chúng phàm phu và hàng Nhị thừa vì chấp pháp nặng nề, nên khó phân biệt cái nào là Thức và cái nào là Căn. Vì thế, mà cả hai đều bị gọi là "Ngu giả". 

Bài tụng thứ ba  

Biến tướng quán không duy hậu đắc 

Quả trung du tự bất thuyên chơn 

Viên minh sơ phát thành Vô lậu 

Tam loại phân thân tức khổ luân. 

Dịch nghĩa  

Trí Hậu đắc biến tướng không, quán (duyên) 

Khi chứng quả còn chẳng nói chơn 

Viên minh vừa phát thành Vô lậu 

Phân thân ba loại, dứt khổ luân. 

LƯỢC GIẢI  

Năm thức này không có "Căn bản trí" mà chỉ có "Hậu đắc trí". Khi duyên chơn như thì nó chỉ biến lại tướng phần của hai món chơn như (Sanh không chơn như và Pháp không chơn như) mà duyên, chớ không thể trực tiếp thân duyên được; vì nó không có "Căn bản trí" nên không thể thân duyên. 

Khi chứng được Thánh quả, cũng không thể nói "Năm thức này thân duyên được chơn như", huống chi là trong lúc tu nhơn. 

Đến khi thức thứ Tám vừa chuyển thànhĐại viên cảnh trí (viên minh sơ phát) thì 5 thức này thành Vô lậu. Lúc bấy giờ, 5 thức này có công dụng hiện ra ba loại thân để hoá độ và dứt trừ các khổ sanh tử luân hồi cho chúng sanh. 

Câu "Biến tướng không quán": Biến lại tướng chơn như mà duyên. Chữ "Tướng không" là tướng Ngã không và Pháp không tức là Chơn như (nhị không chơn như). Chữ "Quán" là duyên. Nghĩa là:Trí Hậu đắc này chỉ biến lại tướng chơn như mà duyên. 

Chữ "Nói Chơn": Nghĩa là nói thân duyên Chơn như. 


BÀI THỨ TƯ 

Ý THỨC (THỨC THỨ SÁU)


Thức này nương Ý căn (thức thứ 7) khởi tác dụng phân biệt Pháp trần, nên gọi là "Ý thức". 

Trong tám thức duy có thức thứ Sáu này rất lanh lẹ và khôn ngoan hơn hết, nên trong bài thơ Bát thức có câu rằng:"Độc hữu nhứt cá tối linh ly" (riêng có một cái thức rất lanh lẹ). Suy nghĩ làm việc phải, thức này đứng đầu; còn tính toán tạo tác việc ác, thì nó cũng hơn cả. Bởi thế nên trong Duy thức nói:"Công vi thủ, tội vi khôi" (Nói về "Công" thì thức này hơn hết, còn luận về "Tội" thì nó cũng đứng đầu). Thức này cũng có công năng chấp Ngã và chấp Pháp. 

Một điều mà người học thường thắc mắc: Tại sao thức thứ Sáu gọi là "Ý thức", mà thức thứ Bảy cũng gọi là "Ý thức"? trong Đại thừa bá pháp minh môn luận chuế ngôn, có giải thích như vầy: Thức thứ Sáu mà gọi là "Ý thức" vì thức này nương "Ý căn" mà khởi ra phân biệt, nên gọi "Ý thức". Nghĩa là thức của Ý căn. "Thức" là năng y, còn"Ý" là bị y, hai phần khác nhau.cũng như nói "Nhãn thức", tức là thức của Nhãn căn. Thế là căn với thức khác nhau. 

Còn thức thứ Bảy mà gọi là "Ý thức"; chữ "Ý" là sanh diệt tương tục không gián đoạn. Vì thức này sanh diệt tương tục không gián đoạn nên gọi là "Ý thức". Thế là "Thức" tức là "Ý" không khác. Cũng như "Tàng thức", chữ "Tàng" là chứa đựng. Vì thức này chứa đựng các pháp, nên gọi là "Tàng thức". Thế là "Thức" tức là "Tàng (chứa) không khác. 

KHI Ở ĐIẠ VỊ PHÀM PHU, THỨC NÀY ĐỐI VỚI:  

1. Ba cảnh: Thức này có đủ ba cảnh: 

a) Tánh cảnh, b) Độc ảnh cảnh, c) Đới chất cảnh. 

2. Ba lượng: Thức này có đủ ba lượng: 

a) HIện lượng, b) Tỷ lượng, c) Phi lượng. 

3. Ba tánh: Thức này có đủ ba tánh: 

a) Thiện tánh, b) Ác tánh, c) Vô ký tánh. 

4. Ba cõi: Thức này có đủ trong ba cõi: 

a) Cõi dục, b) cõi sắc, c) cõi Vô sắc. 

5.Chín địa: Thức này có đủ trong chín địa: 

6. Tâm sở: Thức này có đủ 51 món Tâm sở: 5 món Biến hành, 5 món Biệt cảnh, 11 món Thiện, 6 món căn bản phiền não, 20 món Tùy phiền não, 4 món Bất định. 

7. Chín duyên: Trong chín duyên, thuức này chỉ có 5 duyên: a) Căn duyên, b) Cảnh duyên, c)Tác ý duyên, d)Căn bản duyên, e) Chủng tử duyên. 

8. Thể (tánh): Thể của thức này có ba món phân biệt: a)Tự tánh phân biệt, b)Tuỳ niệm phân biệt, c) Kế đạt phân biệt. 

9. Tướng: Tướng của thức này là luân chuyển trong ba cõi (tam giới luân thời dị khả tri). 

10. Nghiệp dụng: Nghiệp dụng của thức này làm cho thân và miệng tạo ra dẫn nghiệp và mãn nghiệp để cảm thọ quả báo trong ba cõi. Và ba tánh cùng năm Thọ, thức nàt thường thay đổi luôn. 

KHI LÊN THÁNH VỊ, THỨC NÀY ĐỐI VỚI  

1. Quán hạnh (tu): Thức thứ sáu này quán sanh không, phá trừ ngã chấp và quán pháp không, phá trừ pháp chấp. 

2. Đoạn hoặc và thành trí: Thức này có năm giai đoạn trừ hoặc chuyển thành trí: 

a)Đến vị Tư lương, thì thức này mới chinh phục được hai món hiện hành của ngã chấp. 

b)Đến vị Kiến đạo, thì thức này mới đoạn được hai món chủng tử về phần phân biệt của ngã chấp và pháp chấp. 

c)Đến vị Tu tập, thức này đoạn được hai món hiện hành và chinh phục được hai chủng tử cu sanh của ngã chấp và pháp chấp. 

d)Đến vị Viễn hành trở lên thì thức này mới đoạn hết cu sanh ngã chấp và hoàn toàn vô lậu. 

e)Đến vị Đẳng giác, thức này đoạn hết cu sanh pháp chấp,chuyển thành Diệu quan sát trí. 

3. Chứng quả và diệu dụng: Khi chứng quả vị Phật, thì thức này chuyển thành Diệu quan sát trí và có công năng chiếu soi căn cơ của chúng sanh trong Đại thiên thế giới, rồi tùy cơ thuyết pháp hoá độ hàm linh. 

Muốn cho người học dễ nhớ, nên trong Bát thức quy củ, ngài Huyền Trang Pháp sư có làm ba bài tụng như sau. Hai bài tụng đầu, nói thức này khi ở điạ vị Phàm phu, bài tụng thứ ba nói thức này khi đặng Thánh quả. 

Bài tụng thứ nhứt  

Tam Tánh, tam Lượng thông tam Cảnh 

Tam giới luân thời di khả tri 

Tương ưng Tâm sở ngũ thật nhứt 

Thiện ác lâm thời biệt phối chi. 

Dịch nghiã  

Ba Tánh, ba Lượng và ba Cảnh 

Luân chuyển ba cõi rất dễ biết 

Tâm sở tương ưng năm mươi mốt 

Thiện ác đến thời riêng phối hiệp. 

LƯỢC GIẢI  

Thức thứ Sáu này đủ cả ba Tánh, ba Lượng và ba Cảnh. Nó luân hồi trong ba cõi rất dễ biết. Những Tâm sở tương ưng với thức này có 51 món. Khi thức này nghĩ việc lành thì có Thiện tâm sở riêng phối hiệp, còn khi nghĩ việc ác thì có Ác tâm sở riêng phối hiệp. 


*** 


Bài tụng thứ hai  

Tánh, Giới, Thọ tam hằng chuyển dịch 

Căn, Tùy, Tín dẳng đồng tương liên 

Động thân phát ngữ độc vi tối 

Dẫn, Mãn năng chiêu nghiệp lực khiên. 

Dịch nghiã  

Tánh, Giới, Thọ ba thường biến đổi 

Căn, Tuỳ, Tín chung nhau liên tiếp 

Thân động, miệng thốt nó hơn hết 

Dẫn nghiệp, Mãn nghiệp thọ quả báo 

LƯỢC GIẢI  

Thức Này đối với ba Tánh, ba Giới và năm Thọ thì nó thường thay đổi; khi thì vui lúc lại buồn, ...51 món Tâm sở, như căn bổn phiền não, Tuỳ phiền não và Thiện tâm sở, ...cùng nhau liên tiếp không lúc nào rời thức này. Làm cho thân động và miệng nói, duy có thức này là hơn hết. Nó tạo ra dẫn nghiệp và mãn nghiệp để chiêu cảm quả báo đời sau. 

Baì tụng thứ ba  

Phát khởi sơ tâm Hoan hỷ địa 

Cu sanh du tự hiện triền miên 

Viễn hành địa hậu thuần vô lậu 

Quán sát viên minh chiếu Đại thiên. 

Dịch nghĩa  

Khi đặng sơ tâm Hoan hỷ địa 

Cu sanh ngã, pháp hiện còn ẩn 

Viễn hành về sau thuần vô lậu 

Quán sát viên mãn khắp Đại thiên 

LƯỢC GIẢI  

Hành giả trong lúc trãi qua Thập thánh thì thứ c này có ba thời kỳ đoạn phiền não và thuần vô lậu. 

1. Khi lên Sơ địa, tức là Hoan hỷ địa, thì phân biệt ngã chấp và pháp chấp đều đã đoạn. Nhưng cu sanh ngã chấp và pháp chấp hãy còn hiện hành và miên phục trong Tàng thức, chưa có thể chinh phục và đoạn trừ được. 

2. Khi đến Viễn hành địa (tức là Thất địa) trở lên thì mới đoạn được chủng tử cu sanh của ngã chấp và chinh phục được hiện hành của pháp chấp. Lúc bấy giờ thức này mới thuần Vô lậu. 

3. Khi sắp lên quả Phật thì đoạn được chủng tử cu sanh của pháp chấp. Lúc bấy giờ thức này chuyển thành Diệu quan sát trí, quán sát chiếu soi cả Đaị thiên thế giới và tuỳ theo căn cơ của mỗi loài mà thuyết pháp giáo hoá. 


BÀI THỨ NĂM 

MẠT NA THỨC (THỨC THỨ BẢY)


Thức này có nhiều tên: 1. Mạt na (goị theo nguyên âm tiếng Phạn), 2. Ý căn: Thức này là căn của ý thức (Thức thứ Sáu); Vì thức thứ Sáu nương thức này phát sanh. 3. Thức thứ Bảy: Theo thứ đệ thì thức này đứng nhằm thứ Bảy. 4. Truyền thống thức: Vì thức này có công năng truyền các pháp hiện hành. 5. Ý thức, vì thức này sanh diệt tương tục không gián đoạn nên gọi là "Ý". Song, sợ người lầm lộn với ý thức thứ Sáu, nên thức thứ Bảy này chỉ gọi là "Ý", mà không thêm chữ "Thức". Thức này chỉ duyên kiến phần cuả thức A lại da chấp làm thật ngã và thật pháp. 

KHI Ở ĐIẠ VỊ PHÀM PHU, THỨC NÀY ĐỐI VỚI:  

1. Ba cảnh: Thức này chỉ có Đới chất cảnh 

2. Ba lượng: Thức này chỉ có Phi lượng 

3. Ba tánh: Thức này chỉ có Hữu phú Vô ký tánh. 

4. Ba giới: Trong ba Giới, thức này đều có đủ. 

5. Chín địa: Trong chín Địa, thức này có đủ. 

6.Tâm sở: Thức này có 18 tâm sở: 5 món Biến hành, 1 món Huệ trong Biệt cảnh, 4 món căn bổn phiền não: Si, Kiến, Mạn, Ái và 8 món Đại tùy. 

7.Chín duyên: Thức này chỉ có ba duyên: 1. Căn cảnh duyên. 2. Tác ý duyên. 3. Chủng tử duyên. 

8.Tánh: Hằng thẩm xét và lo nghĩ (Hằng thẩm tư lương). 

9. Tướng: Lo nghĩ (Tư lương vi tánh tướng) 

10. Nghiệp dụng: Làm chỗ cho 6 thức trước nương, hoặc nhiểm hay tịnh. 

KHI LÊN THÁNH VỊ THỨC NÀY ĐỐI VỚI:  

1. Quán hạnh: Thật ra thức này không có năng lực đoạn hoặc, chỉ nhờ thức thứ Sáu tu quán, đoạn hoặc, mà thức này cũng được đoạn. 

2. Đoạn hoặc và chuyển thành trí:Có ba giai đoạn: a) Đến sơ địa, thì thức này mới vừa chinh phục được hai món chấp về phần cu sanh và chuyển thành Bình đẳng tánh trí. b) Khi lên Bát địa (Vô công dụng đạo) thức này đoạn được cu sanh ngã chấp. c) Đến Kim Cang đạo thì thức này mới đoạn được cu sanh pháp chấp 

3. Chứng quả và diệu dụng: Khi chứng quả vị Phật, thì thức naỳ hiện ra thân "Tha thọ dụng", để giáo hoá thập địa Bồ Tát. 


*** 


Muốn cho người học dễ nhớ, nên trong Bát thức quy củ, ngài Huyền Trang Pháp sư có làm ba bài tụng như sau. Hai bài tụng đầu, nói thức này khi ở điạ vị Phàm phu, bài tụng thứ ba nói thức này khi lên Thánh quả. 

Bài tụng thứ nhất  

Đới chất hữu phú thông tình bổn 

Tùy duyên chấp ngã, lượng vi phi 

Bát đại Biến hành, Biệt cảnh Huệ 

Tham, Si, Ngã kiến, Mạn tương tuỳ. 

Dịch nghiã  

Đới chất hữu phú thông Bảy, Tám 

Tùy duyên chấp ngã thuộc Phi lượng 

Tám đại, Biến hành, Huệ Biệt cảnh 

Tham, Si, Ngã, Mạn thường theo nhau 

LƯỢC GIẢI  

Trong ba cảnh, thức này chỉ duyên về "Đới chất cảnh". Ba tánh, thức này chỉ thuộc về "Hữu phú Vô ký tánh". Cảnh đới chất của thức này là thông cả thức thứ Bảy và thức thứ Tám. Nghĩa là thức thứ Bảy dùng kiến phần năng duyên của mình (Tức là Tâm, trên nguyên văn bài tụng chữ Hán gọi là Tình) duyên qua kiến phần của thức thứ Tám (kiến phần thức thứ Tám cũng là Tâm; song vì bị thức thứ Bảy lấy nó làm "bản chất" để duyên, nên trên bài tụng theo nguyên văn chữ Hán goị là "Bổn", tức là "Bản chất" vậy), rồi biến lại "Cảnh đới chất". Vì thế nên trong Duy thức có câu: 

"Dĩ tâm duyên tâm chơn đới chất 

Trung gian tướng phần lưỡng đầu sanh" 

Nghiã là thức thứ Bảy dùng kiến phần của tâm mình, duyên qua kiến phần tâm của thức thứ Tám, nên chính giữa hai thứ c này sanh ra một tướng phần là cảnh "Chơn đới chất". 

Chúng sanh tùy vọng nghiệp sanh trong Tam giới, thí thức này cũng theo đó mà chấp ngã. Trong ba lượng, thức này thuộc về phi lượng. 

Về tâm sở thì thức này có 18 món: 8 Đại tùy, 5 món Biến hành và một món Huệ trong 5 món Biệt cảnh với 4 món căn bổn phiền não là Tham, Si, Mạn và Ngã kiến. 

Bài tụng thứ hai  

<
Các loại sách cùng loại
Thông báo
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
Góc nhìn từ cuộc sống
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
Giới thiệu văn hóa phẩm
Câu chuyện cuối tuần
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------
Copyright thienvacuocsong

Lượt truy cập : 24
Tổng truy cập : 3116987

© 2013 : Chùa Thiên Trì
Chùa Thiên Trì chỉ có 1 website tại địa chỉ

http://www.thienvacuocsong.com

Mong độc giả lưu ý

Địa chỉ: Cơ sở 1: CHÙA THIÊN TRÌ, số B15/20, xã Bình Hưng, Bình Chánh, Tp. HCM

Cơ Sở 2 :THIỀN VIỆN PHÚC LONG, thôn Nguyệt Hạ, xã Yên Tân, Ý Yên- Nam Định.
Điện thoại: 0908400155

Emailthientri.bc@gmail.com  hoặc chuathientri.binhchanh@gmail.com
Websitehttp://www.thienvacuocsong.com